Truy tìm danh mục “Tôt” và “Xấu” theo phương pháp GeWorko

Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 ảnh hưởng tất cả các lĩnh vực kinh tế. Trực tiếp hoặc gián tiếp, nó ảnh hưởng đến hiệu suất của các công ty, nhưng mức độ hiệu ứng này khác nhau. Thực tế này cung cấp nhiều cơ hội để tìm thấy chiến lược đầu tư dựa trên sự khác biệt về chi phí và động lực lâu dài của phản ứng, ví dụ, cổ phiếu từng ngành khác nhau.

Trong bài viết này, chúng tôi sẽ cố gắng đưa ra một ví dụ danh mục đầu tư mà theo thống kê và đồ họa phản ánh khả năng xây dựng một chiến lược đầu tư thành công dựa trên sự khác biệt trong thay đổi lâu dài của các cổ phiếu. Với mục đích này, chúng tôi đã chọn ra 22 cổ phiếu với thanh khoản lớn các công ty Mỹ từ các ngành công nghiệp khác nhau. Bằng cách sử dụng phương pháp tiếp cận của lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại, nguyên tắc đa dang hóa rủi ro, cũng như phương pháp phân tích danh mục đầu tư GeWorko, chúng tôi sẽc lựa chọn ra thành 2 nhóm: danh mục “tốt” và danh mục “xấu”.

Các thành phần “tốt” của danh mục đầu tư sẽ tạo ra sự cân bằng tích cực, có nghĩa là các cổ phiểu nên mua. Thành phần”xấu” của danh mục đầu tư bao gồm cổ phiếu, mà theo các kết quả phân tích của chúng tôi nên có một vị trí ngắn. Toàn bộ phân tích được dựa trên giá đóng hàng tháng được ghi nhận trong 4 năm qua (50 tháng). Các thành phần của tài sản (22 cổ phiếu) được lựa chọn ra để xây dựng một danh mục đầu tư được ghi bên dưới với mã, tên công ty và lĩnh vực:

# Ticker Company Sector
1 AA AlcoaInc BasicMaterials
2 AXP AmericanExpressCompany Financials
3 BA BoeingCompany Industrials
4 DD DupontCompany BasicMaterials
5 DIS WaltDisneyCompany CyclicalConsumerGoods&Services
6 GE GeneralElectricCorporation Industrials
7 HD HomeDepotInc CyclicalConsumerGoods&Services
8 HON HoneywellInternationalInc Industrials
9 HPQ Hewlett-PackardCompany Technology
10 IBM InternationalBusinessMachineCorp Technology
11 INTC IntelCorporation Technology
12 JNJ Johnson&Johnson Healthcare
13 JPM JP MorganChase&Company Financials
14 KO Coca-ColaCompany ConsumerNon-Cyclicals
15 MCD McDonaldsCorporation CyclicalConsumerGoods&Services
16 MRK MerckCoInc Healthcare
17 MSFT MicrosoftCorporation Technology
18 PFE PfizerInc Healthcare
19 T AT&T Telecommunication
20 VZ VerizonCommunicationsInc Telecommunication
21 WMT Wal-MartStoresInc CyclicalConsumerGoods&Services
22 XOM ExxonMobilCorporation Energy

Dữa trên dữ liệu hàng tháng, chúng tôi đã tính ra tăng trưởng trung bình của cổ phiếu, chênh lệch lãi suất chúng bình và hệ số Sharp đơn giản cho từng dữ liệu. Kết quả thống kê lại suất hàng tháng và chênh lệch chung bình được đưa ra bên dưới:

Asset MeanReturn StandardDeviation Asset MeanReturn StandardDeviation
AA 0.31% 10.60% JNJ 1.01% 3.76%
AXP 3.32% 10.96% JPM 1.27% 9.05%
BA 1.99% 6.96% KO 1.31% 4.16%
DD 1.81% 7.90% MCD 1.22% 3.68%
DIS 2.58% 6.54% MRK 1.11% 5.28%
GE 1.64% 8.48% MSFT 1.20% 6.67%
HD 2.33% 6.41% PFE 1.54% 4.85%
HON 2.05% 6.40% T 0.78% 4.16%
HPQ -0.80% 10.36% VZ 1.27% 4.83%
IBM 1.49% 4.27% WMT 0.83% 4.17%
INTC 0.92% 6.59% XOM 0.58% 4.65%

Ngoài ra, có thể tính hệ số Sharp cho từng tài sản. Hệ số được tính bằng cách lại suất chia với chênh lệch chung bình, như thế sẽ thấy tỉ lệ lại suất từng một đồng rủi ro. Cho phân tích của chung tôi, sẽ cho thấy hiểu quả đầu tư. Hệ số có thể xem trong diagram:

Bước tiếp theo sẽ là tìm khối lượng cho từng tài sản để tạo danh mục. Hệ số Sharp, lãi suất hoặc chênh lệch chung bình có thể lấy làm tiểu chuấn. Trong danh mục này chúng tôi sẽ dùng lãi suất cáo nhất với tỉ lệ chênh lệch không quá mức chung bình, tính cho 22 cổ phiếu trên. Chênh lệch chung bình cho 22 cổ phiếu là 6.40%, và chúng tôi muốn danh mục không rủi ro hơn các thành phần trong danh mục. Để tính khối lượng, chúng tôi cần thêm tỉ lệ hiệp biến của tài sản, cho phép thấy mối quan hệ với nhau.

Sau khi tối ưu hóa khối lượng (với 2 hạn chế: chênh lệnh chung bình tôi đa của danh mục (6.40%) và tổng khổi lượng là 100%) chung ta co giải đáp như sau:

Asset Weight Asset Weight
AA -70.27% JNJ 21.59%
AXP 8.97% JPM -31.82%
BA -4.39% KO 29.55%
DD -22.00% MCD -15.80%
DIS 88.08% MRK -5.98%
GE -41.55% MSFT 51.73%
HD 37.01% PFE 39.28%
HON 145.66% T -96.14%
HPQ -43.92% VZ 81.77%
IBM 152.36% WMT -56.03%
INTC -39.34% XOM -128.76%

Chúng tôi đã không loại chừ khả năng mở vị trí ngắn (bán cổ phiếu), chúng tôi sẽ có khổi lượng dương và âm. Tài sản với khối lượng dương sẽ gọi là tài sản “Tôt” và khối lượng âm là “Xấu”. Chỉa ra từng nhóm:

GoodPortfolio BadPortfolio
Asset Weight Asset Weight
AXP 8.97% AA -70.27%
DIS 88.08% BA -4.39%
HD 37.01% DD -22.00%
HON 145.66% GE -41.55%
IBM 152.36% HPQ -43.92%
JNJ 21.59% INTC -39.34%
KO 29.55% JPM -31.82%
MSFT 51.73% MCD -15.80%
PFE 39.28% MRK -5.98%
VZ 81.77% T -96.14%
WMT -56.03%
XOM -128.76%

Tỉ lệ “Xấu” nhiều hơn “Tôt”, điều này không làm mất đi giá trị của nó, vì theo phân tích thì phối hợp các tài sản này sẽ làm lãi suất tăng lên. Nói về từng ngành thì chúng tôi thấy quy luật các ngành vào nhóm.

Bây giờ chúng ta cố gắng hiển thị biểu “tốt” và “xấu” riêng. Chúng ta sẽ dùng sàn NetTradeX để làm điều này. Chúng tôi chọn ra 10 tài sản “tốt” và thể hiện giá trị bằng đô la Mỹ, để biết xem thay đổi giá trị tuyệt đổi. Để làm điều này, chúng tôi đưa khối lượng tài sản thông qua đô la Mỹ, dữ nguyên tỉ lệ đã được tính sẵn. Ví dụ, cho cổ phiếu AXP là 897 đô la, và đối với cổ phiếu VZ – là 8177 đô la. Mặc dù khối lượng đã được đưa ra bằng đô la Mỹ thay vì phần chăm, nhưng trên thực tế se không có gì thay đổi. Biểu đồ sẽ như này:

Nói chung, chúng tôi có một cấu trúc tăng trưởng. Kể từ đầu tháng Giêng năm 2009, giá trị của nhóm “tốt” tăng 2,5 lần, nhưng chúng ta không thể không lưu ý rằng nhóm này giảm đáng kể trong giá trị vào năm 2008. Cũng lưu ý rằng vào đầu tháng 3 năm 2012 giá trị của danh mục đầu tư dao động quanh mức 52.300 đô la – điều này chúng ta sẽ cần trong tương lai để nghiên cứu sự năng động của danh mục đầu tư.

Chúng ta sẽ xây dụng biểu đồ cho nhóm “Xấu” bằng cách tương tự:

Nhóm “Xấu” đã khẳng định lại tên gọi của mình, vì lại suất cho thấy kém hơn so với nhóm “Tốt”, và đã mất 3 lần giá trị của mình vào năm 2008 và tăng trưởng châm sau đấy. Và cũng lưu ý rằng vào thang 3 nam 2012 giá trị của nhóm “xấu” cũng dao động ở mức 52300 đô là.

Cuối cùng chúng tôi xây dựng một danh mục đầu tư kết hợp, trong đó bao gồm cả “tốt” và “xấu” với tỉ lệ khối lượng tương tự. Lưu ý rằng các trọng âm tương ứng với bán tài sản. Khi xây dựng danh mục đầu tư trong sàn NetTradeX, tài sản “tôt” sẽ là tài phần “gốc” còn tài sản “xấu”- trong phần trích dẫn. Nói cách khác, chúng ta có điều kiện mua tài sản “tốt” danh mục đầu tư và bán các tài sản”xấu”,dựa trên những phương pháp GeWorko. Kết quả là chúng ta thấy giá danh mục thứ nhất đánh giá qua danh mục thứ hai, biểu đồ cho thấy thay đổi trong thời gian dai:

Như vậy chúng ta đã có một cấu trúc tăng trưởng, mà đã không phản ứng mạnh vào năm 2008, và đã tăng trường mạnh mệ tiếp sau. Như vậy chúng ta có thể thấy các giá trị tài sản thay đổi khác nhau vời điều kiện kinh tế chung.

Tỉ lệ hiệu sấu của danh mục được đưa vào trong bảng:

Return 7.52%
StDev 6.40%
Sharpe 1.18

Chúng ta thấy, lãi suất của danh mục đã tăng sau khi chúng ta kết nối thêm những vị trị ngắn vào. Lại suất riêng từng tài sản cao nhất là 3.32%. Chênh lệch lại suất chung bình là 6.40%. Còn hệ số Sharpe đơn thuần cho danh mục là 1.18, phản anh hiệu suất, hơn từng cổ phiếu đơn thuần trong nhóm 22 cổ phiếu. Hệ số Sharpe cao nhất là 0.39.

Tài sao danh mục lại tăng trưởng tự tin như vậy? Để giải đáp điều này, phải xem động lực của của từng nhom “Tôt” và “Xấu”. Chúng ta đã tìm thấy tỉ lệ tôi ữu nhất cho kết hợp 2 loại tài sàn bán và mua. Với phương phap GeWorko và thực hiện trên sàn NetTradeX đã cho phép chúng ta phân tích 2 danh mục riêng và khi kết hợp.

Phân tích đã cho thấy rằng trong thời buổi tồi tệ nhất năm 2008, nhóm “tôt” đã mất giá trị ít hơn so với nhóm “xấu”. Và sau khủng khoản, tốc độ tăng trưởng của nhom “tôt” cao hơn nhóm “xấu”. Trước năm 2008, biểu đồ đi ngang, và chúng ta có thể kết luận là chính điểm đấy đã là điêm khởi đầu. Lưu y, vào tháng 3 năm 2012 giá trị của nhóm “xâu” cao hơn giá trị của nhom “tôt” vì thể tỉ lệ tổng hợp lúc đấy dưới 1. Vào thang 3 năm 2012 giá trị đã tương đương và ti lệ bằng 1. Sau đấy thì chúng ta thấy là cần càng nhiều đơn vị “xâu” để mua được một đơn vị “tôt”.